Hiển thị các bài đăng có nhãn Góc truyền thống. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Góc truyền thống. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 28 tháng 1, 2010

GIẶC PHÁP THẢM SÁT CẦU RẠCH GIÀ XÃ HƯNG LONG NĂM 1948

I/ Đặc điểm:

Hưng Long là xã cánh Nam Bình Chánh, địa bàn rộng với (1297 ha), nằm dọc theo con sông Cần Giuộc từ Đông sang Tây. Trong kháng chiến chống Pháp có vị trí quan trọng của khu vực Tây nam Thành Phố; là " Căn cứ lõm" của vùng đất liên xã Hưng Long, An Phú Tây, Tân Quý và Qui Đức. Toàn xã lúc bấy giờ có hơn 200 ha địa hình cây dừa nước, bần, bình bát với nhiều ô rô, cỏ dại khác; nhất là khu vực sông Quán Cơm, Rạch Già giáp xã An Phú Tây và Tân Quý. Những năm 1946, 1948 Hưng Long còn thuộc huyện Cần Giuộc (Tỉnh Chợ Lớn); là một địa bàn thuận lợi cho lực lượng cách mạng quân khu, liên xã đứng chân. Đó là cán bộ dân quân, chính Đảng của Tỉnh, Huyện (bị lộ) về đây tạm ở, chờ dự hội nghị hoặc họp hội...Có thể nói Hưng Long vào những năm đầu kháng chiến, là cơ sở tiền tiêu đứng chân cho việc tập kết cán bộ Việt Minh đi về căn cứ "Rừng Sác", "Vườn Thơm" và ngược lại mà vào giữa năm 1946, bộ đội Quản Cân đã đánh xóa đồn giặc Pháp tại ấp 1, giải phóng cho xã, tạo tiền đề cho các lực lượng cách mạng ta (yên tâm), về đây đứng chân với "căn cứ lòng dân Hưng Long" vững chắc, luôn cưu mang hết lòng vì cách mạng.

II/ Diễn tiền trận càn của giặc Pháp:

Chủ trương của giặc lúc bấy giờ là "Đánh nhanh thắng nhanh" bị thất bại vì Việt Minh ngày càng lớn mạnh; giặc Pháp quay sang bình định lấn chiến đồng bằng Bắc Bộ, ở Nam bộ chúng tập trung đánh mạnh vào các vùng (độc lập) trọng điểm của ta. Tại Tỉnh Chợ Lớn ngày 15/4/1948, giặc Pháp mở cuộc tấn công qui mô cấp trung đoàn vào "Căn cứ Vườn Thơm" nhưng vẫn bị thua đau. Tình hình xã Hưng Long sau khi bị ta đánh xóa đồn "Cây Dương" ấp 1, năm 1946; giặc cay cú thừa biết Hưng Long là nơi tập trung nhiều đơn vị cán bộ Việt Minh; chúng quyết tâm càn quét tiêu diệt lực lượng cách mạng để đóng đồn ở đây, khống chế mọi hoạt động của ta. Do đó sáng ngày 4/5/1948, giặc Pháp điều động 2 tiểu đoàn bộ binh (thuộc lính Âu Phi), cùng với các trung đội lính Bảo an thuộc bót Cần Giuộc, Long Thượng, Qui Đức, Tân Quý và Bình Điền; trên sông Cần Giuộc (khu vực Quán Cơm) giặc cho tàu, canô tới lui án ngữ.

Rạng 7 giờ sáng ngày 4/5, giặc đổ bộ bằng 3 mũi: Cánh thứ nhất từ xã Phong Phú, tỉnh lộ 50 (nay là Quốc lộ) đi qua; Cánh thứ hai từ ấp 2 và 3 Hưng Long, Hương lộ 11 đổ vào. Hai mũi này giặc hành quân chậm, vừa nổ súng vừa xét hỏi bắt dân và tạo thành vòng vây tiến lần đến Rạch Già (ấp 6). Mũi thứ ba từ Bình Điền vào đến xã An Phú Tây (gần mục tiêu), nằm yên phục kích. Bên ta gồm: Dân quân Hộ 17, Quận 8, quân nhu Quân khu 7, Ban công tác Thành, Đoàn thể Mặt trận Huyện Cần Giuộc và cùng phần lớn nhân dân chạy giặc Tây... vì quá ít vũ khí ta không thể chủ động đối phó, tưởng giặc đi bố bình thường, ta lần lượt rút về ấp 6 Rạch Già tránh giặc.

Đến 11 giờ trưa, 3 cánh quân của giặc vừa bắn phá vừa khép lại đội hình chữ "O", nổ súng quyết liệt áp đảo ta. Sau đó, chúng cho nhiều đại đội địch áp sát hai bên bờ sông Rạch Già; đồng thời cho một đơn vị lính ác ôn dùng lựu đạn và súng tiểu liên lục soát dưới lòng rạch, nước ròng đang cạn sát. Hai bọn lính, cả dưới sông lẫn trên bờ vào nhà dân thi nhau lùng sục...chẳng những chúng ném lựu đạn, nổ súng giết người dưới rạch; mà ngay ở nhà dân ai bị quần áo ướt hoặc dính bùn cũng bắn tại chỗ. Tại cầu Rạch Già giặc bắt trói khoảng 40 đồng bào ta rồi xả súng giết! Trên khu vực Rạch già (ấp 6 Hưng Long), giặc Pháp đã thảm sát khoảng 200 người thuộc quân dân, chính, Đảng của ta nói trên; sau đó 14 giờ chiều giặc còn bắt đi 100 người (tuổi từ thanh đến trung niên) để làm sâu (lao công) xây dựng bót "Quán cơm".

Qua trận càn Huyện ủy Cần Giuộc có gởi thư đến chia buồn xã Hưng Long và chính quyền Mặt trận xã tổ chức Lễ truy điệu chung cho các đồng chí, đồng bào đã hy sinh tại Rạch Già ngày 5/4/1948. Từ đây ngày 26/3 Âm lịch là ngày giỗ hội của nhiều gia đình, đồng bào ở vùng đất liên xã này.

III/ Tên đơn vị có người hy sinh (Có danh sách kèm theo)

1. Ban Quân nhu Quân khu 7
2. Ban công tác Thành
3. Quận 8 (tức Hộ 17)
4. Ban Chấp hành Thanh niên Huyện Cần Giuộc
5. Xã Hưng Long
6. Xã An Phú Tây
7. Xã Tân Quý Tây
8. Xã Đa Phước
9. Xã Phong Phú
10. Xã Long Thượng (Cần Giuộc)

IV/ Nhân chứng có liên quan hoặc có hiểu biết cuộc càn:
1/ Đồng chí Nguyễn Văn Chính (9 Cần) nguyên Ủy viên Trung Ương Đảng, Chủ Tịch Hội Nông dân Việt Nam đã về hưu hiện ở 290 Điện Biên Phủ Quận 3

2/ Đồng chí Nguyễn Văn Chí (6 Chí) nguyên Ủy viên Trung Ương Đảng, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã về hưu, hiện ở 24B Trần Quốc Thảo, Quận 3.

3/ Đồng chí Lưu Sĩ Biểu (Quốc Bửu) nguyên Huyện ủy viên, Chủ nhiệm Mặt trận Việt Minh Huyện Cần Giuộc (1948), bệnh mất 1996, ở ấp 5 xã Hưng Long, đã ký xác nhận bản gốc nội dung văn bản Rạch Cầu Già.

4/ Đồng chí Lưu Quang Tuyến, nguyên Ủy viên Thường vụ Tỉnh Ủy Long An, Trưởng ban Khoa giáo Tỉnh về hưu ở Thị xã Tân An.

5/ Đồng chí Hai Cọp (Hai Thắng) nguyên Giám đốc Công ty Du Lịch Long An , hiện ở số 5 đường Ngô Quyền, Thị xã Tân An.

Nội dung sự kiện này dựa trên cơ sở nội dung gốc, "Rạch Cầu Già xã Hưng Long" của "Thư viện Tư liệu Phòng Bảo tồn Bảo tàng", số 132/TL Sở Văn hóa Thông tin Thành Phố và có sưu tầm xác minh bổ sung thêm.

CHIẾN CÔNG LÁNG LE

I.Vị trí địa lý, đặc điểm:

Láng Le - Bàu Cò thuộc Huyện Trung Huyện, Tỉnh Chợ Lớn nay thuộc huyện Bình Chánh thành phố Hồ Chí Minh cách Sài Gòn 7km đường chim bay, là đồng bưng rộng lớn trải dài trên các xã Tân Tạo, Tân Nhựt và Lê Minh Xuân thuộc Bình Chánh. Đông sang Tây dài độ 10km, Bắc xuống Nam rộng khoảng 5 đến 6 km. Đặc điểm địa hình, địa vật: Mùa nắng sình lầy nước động, mùa mưa nước láng mênh mông. Đồng bưng trống trãi, nhìn thông thống mọi hướng nhưng cỏ lát lùm bụi dày đặc. Vị trí chiến lược: Nằm trong căn cứ địa của Thành ủy Sài Gòn - Chợ Lớn được tổ chức thành thế liên hoàn gắn liền với khu kháng chiến Vườn Thơm - Bà Vụ, nối liền với Lương Hòa - Tân Bửu và Đồng Tháp Mười. Bàu Cò - Láng Le là địa đầu, là căn cứ du kích tiền tiêu của Vườn Thơm - Bà Vụ - của Trung Huyện ngay sát Thành Phố. Là cửa ngõ chiến khu, tiếp đón, trung chuyển vào Sài Gòn.

II. Các trận đánh lịch sử

1/ Chống thành công trận càn của Pháp (15/4/1948):

Mục đích của giặc Pháp muốn bóp chết khu căn cứ Cách mạng của ta vì là gai nhọn đối với giặc Pháp chỉ cách Thành Phố 7 km. Là nơi xuất phát chủ trương vận động quần chúng nhân nhân đánh giặc. Chỗ dựa để phát triển lực lượng Cách mạng của một vùng rộng lớn. Là hậu cần, là bàn đạp của lực lượng vũ trang giải phóng Long An - Sài Gòn - Gia Định. Là gia đình của Tiểu đoàn 6 - An ninh T4 của đơn vị biệt động thành. Sau khi chiếm lại Sài Gòn - Gia Định, các tỉnh lỵ, Huyện lỵ ở Nam bộ, Pháp đã thiết lập bộ máy ngụy quyền từ Trung ương đến địa phương, ra sức tăng cường nhanh chóng sức mạnh quân sự, xây dựng hệ thống đồn bót, mở rộng phạm vị chiến đấu và sử dụng lực lượng tập trung cơ động, thọc sâu và đánh vào các căn cứ kháng chiến của ta thực hiện ý đồ chiến lược " Tốc chiến tốc thắng" nay quay sang bình định lấn chiếm địa bàn căn cứ kháng chiến của ta. Do sự chênh lệch về tương quan lực lượng ở thời kỳ đầu, trước sức mạnh quân sự tạm thời của địch, đại bộ phận lực lượng của ta từ cơ quan đầu não đến lực lượng vũ trang, các tổ chức ban ngành đều rút ra khỏi nội thành, chiếm giữ lấy địa bàn trọng yếu ở ngoại vi, xây dựng thành căn cứ địa đảm bảo cho sự chỉ đạo về mọi mặt được thông suốt và xây dựng phát triển lực lượng toàn diện để thực hiện "Trường kỳ kháng chiến".Là trận tấn công có qui mô lớn nhất sau ngày 23/9/1945 đến tháng 4/1948 ở Miền Đông Nam bộ.

Qui mô của giặc: Cuộc hành quân cấp trung đoàn tăng cường bao gồm : Bộ binh, không quân, xe lội nước, tàu thủy và pháo binh. Tính chất: ác liệt, đốt phá, bắn giết dã man, khói lửa ngút trời với tiếng gầm rú của xe tăng, tàu bay và tiếng nổ xé không gian của đại bác. Thời gian: Từ sáng sớm đến chiều tối

Sự chống trả của ta: Đơn vị chủ lực: Trung đoàn Phạm Hồng Thái và chi đội 15 (Trung đoàn 308) cùng với dân quân Trung Huyện. Mặc dù quân số và đạn dược thiếu thốn, chiến sĩ chưa được huấn luyện đầy đủ nhưng tất cả chiến đấu bằng lòng căm thù sôi sục đối với quân xâm lược và tinh thần xả thân hy sinh vì nền độc lập của Tổ Quốc. Cuối cùng ta đã bẻ gãy trận càn lớn của địch, phá tan âm mưu bao vây tiêu diệt lực lượng của ta, khủng bố tinh thần cán bộ và nhân dân ta muốn đẩy lùi căn cứ kháng chiến và lực lượng Cách mạng ra xa sào huyệt đầu não của chúng.

Ý nghĩa của chiến thắng: Đây là một thắng lợi quân sự vang dội khắp các chiến trường vào thời điểm bấy giờ, cổ vũ mạnh mẽ tinh thần kháng chiến của bộ đội và nhân dân ta. Dù lực lượng võ trang non trẻ, thiếu thốn mọi mặt nhưng vẫn tổ chức kháng cự có hiệu quả và cuối cùng đánh bại một trận càn quét lớn của địch. Là một bài học quí giá về xây dựng và tác chiến của lực lượng Cách mạng. Một ý nghĩa có tính chiến lược là chiến thắng Láng Le bước đầu đã làm thất bại ý đồ " Tốc chiến, tốc thắng" của địch, muốn diệt cơ quan đầu não và lực lượng chủ lực của kháng chiến đã thất bại hoàn toàn.

2/ Chiến thắng trong trận "Tìm diệt" của Mỹ ngụy (14/10/1966):

Cũng trên địa phận Láng Le - Bào Cò của xã Tân Nhựt anh hùng, ngày 14/10/1966 một Tiểu đoàn Biệt động quân của ngụy quyền Sài Gòn bị bộ đội Tiểu đoàn 6 Bình Tân và dân quân du kích tiêu diệt. Là một trận tiêu diệt địch cấp tiểu đoàn - một trong những chiến thắng quan trọng của thời kỳ tập trung đánh mạnh, nhằm tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch; diệt ác phá kiềm; củng cố và giữ vững vùng giải phóng. Nơi đây đã trở thành bàn đạp tiến công của lực lượng cách mạng phía tây nam thành phố, giành thắng lợi trong cuộc tiến công Xuân Mậu thân và chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

III. Khu di tích Láng Le:

Để tưởng nhớ đồng bào và chiến sĩ cách mạng đã hy sinh trên vùng đất này, từ năm 1988, Huyện ủy Bình Chánh đã quyết định xây dựng công trình lịch sử trên vùng đất Láng Le thuộc ấp 1 xã Tân Nhựt, Huyện Bình Chánh với tổng diện tích là 10.000m2. Cuối năm 1988 hai dãy mộ và bia tập thể để tưởng niệm các chiến sĩ và dân quân đã hy sinh trong các trận đánh thời chống Pháp và chống Mỹ đã được xây dựng. Sau đó các hạng mục khác cũng dần dần được hình thành và đến năm 1993 thì hoàn chỉnh công trình như ngày nay.

KHU DI TÍCH LÁNG LE BÀU CÒ

Khu di tích Láng Le - Bàu Cò tọa lạc tại ấp 1 xã Tân Nhựt, huyện Bình Chánh, được Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh công nhận là di tích lịch sử cấp thành phố theo Quyết định số 138/2003/QĐ-UB ngày 05/8/2003.

Từ xã Lê Minh Xuân (huyện Bình Chánh), con đường Láng Le - Bàu Cò được tráng nhựa xuyên thẳng qua xã Tân Nhựt với điểm đến là khu di tích lịch sử Láng Le - Bàu Cò.

Láng Le - Bàu Cò là nơi diễn ra trận chống càn bảo vệ căn cứ kháng chiến và lực lượng võ trang Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định. (Trên dãy đất rộng phía Tây Nam Sài Gòn - Chợ Lớn, cùng với xóm làng bên cạnh những dòng sông và kênh rạch chằng chịt, tự nhiên và con người đã tạo ra những “cái láng”, “cái bàu” nước có rất nhiều tôm cá. Đất lành chim đậu, nhiều loài chim như cò, le le, vịt nước, diệc…tìm đến cư trú kiếm ăn. Từ đó, mọi người đặt cho vùng đất này cái tên mộc mạc, gần gũi “Láng Le - Bàu Cò”).

Địa danh Láng Le - Bàu Cò đã đi vào lịch sử oai hùng chống xâm lược của quân và dân Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định, bằng thắng lợi của cuộc chống càn anh dũng, mưu trí diệt địch, bảo vệ dân, bảo vệ căn cứ Tỉnh ủy Chợ Lớn (tại Đình Tân Túc – Thị Trấn Tân Túc) và Ủy ban kháng chiến hành chánh thành phố Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định.

Khoảng 3 giờ sáng ngày 15/4/1948, thực dân Pháp với 3.000 quân, chủ yếu là lực lượng ứng chiến Âu Phi với 24 xe lội nước loại nhẹ, 04 tàu đổ bộ đầu bằng, được máy bay và pháo binh yểm trợ đã đồng loạt từ nhiều hướng với nhiều mũi tấn công, bao vây vùng Láng Le - Bàu cò.


Lực lượng ta gồm bốn đại đội của Trung đoàn 308; hai tiểu đoàn của Trung đoàn Phạm Hồng Thái; một bộ phận của Trung đoàn 312 cùng các bộ phận vũ trang của Vệ quốc đội; Công an Sài Gòn - Chợ Lớn; dân quân, du kích tập trung của Trung huyện (huyện Bình Chánh).

Sau hơn nửa ngày chiến đấu với giặc để bảo toàn lực lượng và bảo vệ nhân dân vùng Tam Tân tản cư, ta quyết định tấn công về hướng rạch Lươn Sâu (cách khu di tích 100m) của kênh Xáng và gò chợ Trịnh Khánh An. Tại đây, các lực lượng ta tập trung mọi hoả lực khai hoả và đồng loạt xung phong dũng mãnh, đánh giáp lá cà với địch, máu loan đỏ cả rạch Lươn Sâu. Ta đã tiêu diệt gọn đại đội Miên, mở được đường tiến, đưa 3.000 dân Tam Tân cùng toàn bộ lực lượng võ trang, dân quân du kích vượt Kênh Xáng sang đất Tân Bửu (nay là xã Tân Bửu - huyện Bến Lức, Tỉnh Long An) vào rừng tràm Bà Vụ an toàn.

Trong trận Láng Le - Bàu Cò, ta đã tiêu diệt gần 300 tên địch, bắt sống 30 lính đánh thuê, phá huỷ 05 xe nhà binh, thu 01 máy thông tin liên lạc cùng 85 khẩu súng các loại.

Trong trận chiến đấu ác liệt không cân sức này, 32 cán bộ chiến sĩ đã anh dũng hy sinh, 40 đồng chí khác bị thương, 17 đồng chí mất tích. Trong đó có nhiều đồng chí hy sinh khi tuổi còn rất trẻ như liệt sĩ Nguyễn Văn Hạo, Tiểu đoàn trưởng Chi đội 15; liệt sĩ Nguyễn Văn Keo, Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn Ký Con thuộc Trung đoàn Phạm Hồng Thái…

Cùng với chiến công vang dội đã đi vào lịch sử bằng trận chống càn ngày 15/4/1948, Láng Le - Bàu Cò còn là nơi diễn ra nhiều sự kiện tô thắm thêm các trang sử vàng của thành phố qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ. Địa danh Láng Le - Bàu Cò ghi nhận ý chí quyết tâm đánh giặc của quân và dân Trung Huyện (huyện Bình Chánh) không ngại hy sinh, dám xả thân mình vì độc lập, tự do của dân tộc.


Để ghi nhớ công ơn của các lớp cha anh cùng đồng bào đã hy sinh anh dũng trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, tại Láng Le - Bàu Cò, từ năm 1988, Huyện ủy Bình Chánh đã đề ra chương trình phục hồi di tích Láng Le - Bàu Cò với các công trình: rạch Lươn Sâu (làm tượng trưng), tượng đài, bia ghi công các liệt sĩ thời chống Pháp và Mỹ, nhà trưng bài truyền thống, công viên sinh hoạt văn hoá với diện tích trên 01ha.

KHU DI TÍCH DÂN CÔNG HỎA TUYẾN MẬU THÂN 1968


Khu di tích Dân công Hỏa tuyến Mậu Thân 1968 tọa lạc tại ấp 4 xã Vĩnh Lộc A, huyện Bình Chánh; được Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh công nhận là khu di tích lịch sử cấp Thành phố theo Quyết định số 119/2005/QĐ-UBND ngày 12/7/2005.

Để phục vụ tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân ta trong đợt I và II tại Sài Gòn năm Mậu Thân 1968, được sự chỉ đạo của phân khu II, cấp ủy xã Vĩnh Lộc, Chi bộ ấp Tân Hòa 1, Tân hòa 2, Thới Hòa cùng các cơ sở cách mạng nồng cốt đã vận động, tổ chức các đoàn dân công với hàng trăm nam nữ thanh niên tham gia đi phục vụ chiến đấu.

Tổ chức dân công hỏa tuyến không đòi hỏi kỷ luật chặt chẽ khắt khe như bộ đội địa phương hay quân đội chính qui. Dân công hỏa tuyến Vĩnh Lộc là những nam, nữ thanh niên tham gia dân công với đa phần là nữ ở lứa tuổi từ 16-20 tuổi. Đây là lứa tuổi hồn nhiên, yêu đời, khi được vận động đã sẵn sàng gánh vác những nhiệm vụ nặng nề không hề so đo, tính toán, không ngại gian khổ, hy sinh. Nhiệm vụ chủ yếu của dân công hỏa tuyến là phục vụ chiến đấu. Mỗi khi có trận đánh, các đoàn dân công luân phiên nhau phục vụ, mỗi đoàncó khoảng 50 - 60 người, có du kích dẫn đường. Đoàn dân công Vĩnh Lộc với nữ chiếm đa số, trang phục tự có của nữ dân công rất bình dị và gọn gàng, mỗi khi đi làm nhiệm vụ các chị thường mang khăn rằn, mặc áo bà ba màu đen hoặc màu xanh thẳm, quần săn quá gối, có mang theo võng để sử dụng khi nghỉ ngơi và khi cần thiết làm võng cáng thương binh.


Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 15 tháng 6 năm 1968 (nhằm ngày 20 tháng 5 năm 1968 âm lịch), cũng như mọi đêm, đêm ấy, đoàn dân công với gần 60 người được lệnh đưa thương binh vượt bưng Láng Sấu xuống Đức Hòa - Long An và tải đạn về Sài Gòn. Khi đoàn dân công qua khỏi “vùng trắng” tới đồng bưng thì bị máy bay địch thả pháo sáng và phát hiện ra đội hình, chúng đã xả đạn như vãi trấu vào đoàn dân công trên đồng bưng trống trải. Sau trận oanh kích của địch, 35 người trong đoàn hy sinh, trong đó có 32 dân công (25 nữ, 7 nam, có 05 người đã lập gia đình), 03 bộ đội chủ lực; 25 người sống sót, bị thương tật.

Ngay đêm đó, bất chấp hiểm nguy và sự khủng bố tinh thần của địch, bà con ấp Tân Hòa 1, Tân Hòa 2 đã tiến ra đồng bưng cứu chữa những người bị thương và đưa xác con em mình lên những chiếc xe bò về nhà chăm sóc và tổ chức lễ an táng cho những người con đã hy sinh. Đêm 15/6/1968 là đêm đau thương, đêm không thể nào quên trước sự hy sinh rất lớn của người dân Vĩnh Lộc.

Trong cuộc chiến không cân sức trước kẻ thù, bà con Vĩnh Lộc chứng kiến nhiều trận đấu kiên cường, anh dũng hy sinh của các chiến sĩ cách mạng. Những dân công hỏa tuyến là những người tay không, chân đất, giữa đồng bưng trống trải, không vũ khí, họ hy sinh trong tư thế ôm lấy nhau, truyền cho nhau sức mạnh, đất đồng bưng hiền hòa với những đìa nước, dứa dại, cỏ lau là nơi duy nhất nâng đỡ, che chở cho những con người quả cảm ấy.

Sự hy sinh của các chiến sĩ dân công Vĩnh Lộc là điểm son sáng ngời về tinh thần yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng của dân tộc Việt Nam anh hùng. Khu di tích là bản hùng ca về hình ảnh các cô gái vùng ven Sài Gòn đi dân công phục vụ chiến trường; là nơi lưu giữ những tấm gương sáng ngời của thanh niên vùng ven Thành phố đã vượt gian khổ, sẳn sàng hy sinh, vững tin vào thắng lợi; là địa điểm văn hóa, nơi giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ.